Giới thiệu về mua sắm chính phủ ở Nhật Bản: Điều kiện tham gia đấu thầu rộng rãi hoặc hạn chế ở Nhật Bản (Kỳ 8)

Trong từng trường hợp, các cơ quan mua sắm cấp Trung ương, mỗi bộ, ngành sẽ cụ thể hoá năng lực thực hiện hợp đồng của các nhà thầu tiềm năng thành các tiêu chí định lượng
Giới thiệu về mua sắm chính phủ ở Nhật Bản: Điều kiện tham gia đấu thầu rộng rãi hoặc hạn chế ở Nhật Bản (Kỳ 8)

Tiêu chuẩn đánh giá

Trong từng trường hợp, các cơ quan mua sắm cấp Trung ương, mỗi bộ, ngành sẽ cụ thể hoá năng lực thực hiện hợp đồng của các nhà thầu tiềm năng thành các tiêu chí định lượng (các chỉ số) nhằm đánh giá một cách khách quan. Những chỉ số này được xác định dựa vào hệ tiêu chí riêng của mỗi cơ quan, ví dụ như doanh thu trung bình hàng năm, vốn sở hữu, số lượng nhân viên, giá trị máy móc nhà xưởng, tỷ lệ vốn lưu động và số năm hoạt động kinh doanh. Trong quá trình tính toán, chỉ số của nhà thầu càng lớn thì càng thể hiện được năng lực của nhà thầu trong việc thực hiện các hợp đồng có giá trị cao.

 

Tại Nhật Bản, qua quá trình đánh giá, nhà thầu thường được chia vào các nhóm A, B, C và D tuỳ theo chỉ số của họ. Các cơ quan mua sắm cấp địa phương cũng áp dụng tiêu chuẩn đánh giá tương tự trong quy trình đánh giá nhà thầu.

 

Các thông tin về tiêu chuẩn đánh giá, danh sách các nhóm nhà thầu phân theo chỉ số (sau khi đánh giá) và danh sách nhằm nhận diện các nhóm nhà thầu tương ứng với quy mô hợp đồng họ có thể thực hiện được đăng tải trên Công báo Kanpo hoặc Kenpo (ở cấp địa phương).

 

Phạm vi và thời hạn có hiệu lực của việc đánh giá

Với ngoại lệ về “Chứng nhận duy nhất để tham gia quá trình đấu thầu” (sẽ được giới thiệu kĩ trong kỳ tiếp theo), mỗi cơ quan mua sắm sẽ chấp nhận Đơn xin tham gia sơ tuyển và tiến hành quá trình đánh giá. Trong nhiều trường hợp, Giấy chứng nhận (về việc vượt qua quá trình đánh giá và được coi là nhà thầu đủ điều kiện) chỉ có giá trị đối với cơ quan mua sắm có liên quan. Tuy vậy, nhiều cơ quan khác cũng có thể chấp nhận giấy chứng nhận đó của nhà thầu nếu các cơ quan này cùng thuộc một bộ hoặc một tổ chức với cơ quan đứng ra tổ chức đánh giá nhà thầu.

 

Thông thường, Giấy chứng nhận của nhà thầu ở Nhật Bản có thời hạn trong vòng 2 đến 3 năm. Thông tin chi tiết về thời hạn của Giấy chứng nhận được đăng tải trên Công báo Kanpo hoặc các phương tiện tương ứng ở cấp địa phương vào khoảng thời gian từ tháng 12 tới tháng 2 năm sau. Trường hợp nhà thầu nộp đơn xin tham gia sơ tuyển muộn hơn thời gian nêu trong Công báo Kanpo, Giấy chứng nhận cho nhà thầu (nếu họ vượt qua quá trình sơ tuyển) sẽ chỉ có giá trị trong phần thời gian còn lại trong 2 hay 3 năm đó. Chẳng hạn như, thời gian có hiệu lực của Giấy chứng nhận cho nhà thầu là 3 năm, kể từ ngày 1/1/2014 (tức là sẽ hết hạn vào cuối ngày 31/12/2017); nếu một nhà thầu nộp đơn xin tham gia sơ tuyển và được cấp Giấy chứng nhận vào ngày 1/1/2015, thời hạn có hiệu lực của Giấy chứng nhận đó sẽ chỉ còn 2 năm (vẫn hết hạn vào cuối ngày 31/12/2017).

Hương Giang

 

ngocthanh