Giới thiệu về mua sắm chính phủ ở Nhật Bản: Các chính sách tự nguyện về mua sắm chính phủ ở Nhật Bản (Kỳ 4)

Nhằm mở rộng cơ hội kinh doanh trên cơ sở không phân biệt đối xử, cạnh tranh, công bằng và minh bạch, ngày 20/1/1992, Uỷ ban Chương trình hành động
Giới thiệu về mua sắm chính phủ ở Nhật Bản: Các chính sách tự nguyện về mua sắm chính phủ ở Nhật Bản (Kỳ 4)

3. Mua sắm sản phẩm và dịch vụ máy tính

3.1. Ban hành và sửa đổi quy định 

Nhằm mở rộng cơ hội kinh doanh trên cơ sở không phân biệt đối xử, cạnh tranh, công bằng và minh bạch, ngày 20/1/1992, Uỷ ban Chương trình hành động đã thông qua “Các chính sách đấu thầu áp dụng cho mua sắm công các sản phẩm và dịch vụ máy tính”.

 

Cũng giống như các chính sách áp dụng với siêu máy tính, chính sách đấu thầu các sản phẩm và dịch vụ máy tính được soạn thảo sau khiếu nại của Hoa Kỳ. Cụ thể, Hoa Kỳ “phàn nàn” rằng, thị phần sản phẩm và dịch vụ máy tính của nước ngoài (trong đó có Hoa Kỳ) còn rất thấp trong mua sắm của các cơ quan công quyền của Nhật Bản, điều ngược lại với xu thế này trong khu vực tư nhân.

 

3.2. Những điểm đáng chú ý trong Quy định

Quy định này áp dụng đối với các gói thầu có giá từ 100.000 SDR (đơn vị tiền tệ quốc tế do Quỹ Tiền tệ quốc tế phát hành, 100.000 SDR tương đương khoảng 3,1 tỷ đồng) trở lên do 159 cơ quan mua sắm của Nhật Bản thực hiện, bao gồm 153 cơ quan mua sắm được liệt kê trong Phụ lục 1 và 3 Bản chào sửa đổi của Nhật Bản trong Hiệp định Mua sắm chính phủ của WTO (Hiệp định GPA) và 6 cơ quan khác là: Cơ quan Khám phá không gian Nhật Bản, Ngân hàng Shoko Chukin, Sân bay quốc tế Kansai mới, Quỹ Nippon, Cơ quan Phát thanh Nhật Bản (NHK) và Hiệp hội Nhà ở cho người lao động Nhật Bản. Quy định này có hiệu lực từ ngày 1/4/1992 đối với các gói thầu mua sản phẩm máy tính và từ ngày 1/10/1992 với các gói thầu mua dịch vụ máy tính (ngoại trừ mua sắm của một số cơ quan chịu sự điều chỉnh của Quy định có hiệu lực từ ngày 1/4/1993).

 

Quy trình này quy định rằng mỗi cơ quan mua sắm tự lựa chọn quy trình đấu thầu cụ thể. Tuy nhiên, “Đề cương về các chính sách cải cách kinh tế đối ngoại” được thông qua ngày 29/3/1994 lại quy định rằng, đến cuối năm tài chính 1994, phương pháp đánh giá giá trị tổng thể cao nhất (overall greatest value) sẽ được áp dụng làm tiêu chuẩn đánh giá đối với một số gói thầu mua sắm máy tính. Do vậy, trước thời điểm cuối năm tài chính 1994, Quy trình yêu cầu phải chuẩn bị và giới thiệu về phương pháp này.

 

Ngày 27/3/1995, Phiên họp lần thứ 24 của Uỷ ban Chương trình hành động đã đưa ra quyết định rằng, kể từ ngày 1/7/1995, phương pháp đánh giá giá trị tổng thể cao nhất sẽ được áp dụng đối với các gói thầu có giá từ 800.000 SDR trở lên (tương đương 25 tỷ đồng). Ngày 28/3/1995, các bộ và cơ quan liên quan đã xây dựng và công bố Thoả thuận sơ bộ hướng dẫn chuẩn đối với việc áp dụng Phương pháp đánh giá giá trị tổng thể cao nhất.

 

4. Trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ y tế

4.1. Ban hành và sửa đổi quy định

Các gói thầu mua sắm thiết bị và dịch vụ viễn thông, sản phẩm và dịch vụ công nghệ y tế là chủ đề ưu tiên được Chính phủ Nhật Bản và Hoa Kỳ tiến hành tham vấn trong khuôn khổ Khung đàm thoại Hoa Kỳ - Nhật Bản. Tại đây, Nhật Bản đã thông qua các chính sách tự nguyện liên quan tới mua sắm chính phủ trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ y tế (Quyết định của Uỷ ban Chương trình hành động ngày 28/3/1994), nằm trong “Đề cương về các chính sách cải cách kinh tế đối ngoại” được Nội các thông qua ngày 29/3/1994.

 

Dựa trên kết quả tham vấn giữa hai Chính phủ, ngày 7/10/1994, Phiên họp lần thứ 22 của Uỷ ban Chương trình hành động đã thông qua Hướng dẫn thực hiện với mục đích giải thích rõ hơn về các chính sách nêu trên.

 

4.2. Những điểm đáng chú ý trong Quy định này

Tại Phiên họp lần thứ 21 của Uỷ ban Chương trình hành động ngày 28/3/1994, Nhật Bản đã thông qua “Quy định đấu thầu mua sắm thiết bị và dịch vụ viễn thông” và “Quy định đấu thầu mua sắm sản phẩm và dịch vụ công nghệ y tế”. Về nguyên tắc, 2 quy định này áp dụng đối với các gói thầu sử dụng ngân sách của năm tài chính 1994.

 

Quy định đấu thầu trong lĩnh vực viễn thông điều chỉnh các gói thầu đặc biệt mua sắm sản phẩm và dịch vụ viễn thông với giá gói thầu từ 100.000 SDR trở lên do 150 cơ quan mua sắm của Nhật Bản thực hiện (bao gồm các cơ quan được liệt kê trong Phụ lục 1 và 3 Bản chào của Nhật Bản trong Hiệp định GPA sửa đổi, ngoại trừ Công ty Điện tín và Điện thoại Nippon, Công ty Điện tín và Điện thoại Đông Nippon và Công ty Điện tín và Điện thoại Tây Nippon). Trong khi đó, Quy định đấu thầu trong lĩnh vực công nghệ y tế điều chỉnh các gói thầu đặc biệt mua sắm sản phẩm và dịch vụ công nghệ y tế với giá gói thầu từ 100.000 SDR trở lên do 108 cơ quan mua sắm của Nhật Bản thực hiện (bao gồm các cơ quan được liệt kê trong Phụ lục 1 và 3 Bản chào của Nhật Bản trong Hiệp định GPA sửa đổi).

Tuệ Hà

 

 

ngocthanh