Canada: Đầu tư theo hình thức PPP trong y tế đạt hiệu quả cao hơn đầu tư công truyền thống

Tính đến tháng 3 năm 2014, trong tổng số 254 dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) được triển khai ở Canada thì có đến 85 dự án trong lĩnh vực y tế. Trong số đó, có 45 dự án đã hoàn thành
Canada: Đầu tư theo hình thức PPP trong y tế đạt hiệu quả cao hơn đầu tư công truyền thống

Tính đến tháng 3 năm 2014, trong tổng số 254 dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) được triển khai ở Canada thì có đến 85 dự án trong lĩnh vực y tế. Trong số đó, có 45 dự án đã hoàn thành và đi vào hoạt động. Riêng nửa cuối năm 2013, đầu năm 2014, có 7 dự án kết cấu hạ tầng và dịch vụ y tế mới đầu tư theo hình thức PPP được xúc tiến ở các bang British Columbia, Saskachewan và Québec.

IMG

Tính từ năm 2003 đến năm 2012, Canada đã xây dựng, mở rộng thêm được 85 bệnh viện/cơ sở y tế, tăng thêm được 4.790 giường bệnh điều trị thường xuyên, 1.500 giường bệnh nội trú điều trị dài hạn

 Ảnh: N.C sưu tầm

Tại Canada, bang Ontario dẫn dầu về số dự án PPP trong tất cả các lĩnh vực cũng như trong lĩnh vực y tế, với 52 dự án kết cấu hạ tầng và dịch vụ y tế  trong tổng số 104 dự án PPP. Đứng thứ 2 là bang British Columbia với tổng số 41 dự án PPP, trong đó có 16 dự án trong lĩnh vực y tế.

 

Tính theo giá trị các dự án PPP trong lĩnh vực y tế, bang Ontario cũng dẫn đầu với 11.417,4 triệu đôla Canada (CAD). Bang Québec mặc dù có số dự án PPP trong lĩnh vực y tế ít hơn bang British Columbia, song tổng giá trị các dự án đạt 4.233,1 triệu CAD, so với 2.302,2 triệu CAD của bang British Columbia.

 

Một số dự án PPP lớn trong lĩnh vực y tế tại Canada có thể kể đến như dự án Bệnh viện Brampton, Bệnh viện Halmiton, Bệnh viện Montfort, Khu liên hợp Dịch vụ y tế Niagara, Trung tâm Ung thư Ottawa tại Ontario, hay Bệnh viện Abbotsford và Trung tâm Ung thư, Bệnh viện Hoàng gia Jubilee tại bang British Columbia, Bệnh viện Đại học Montreal (CHUM) tại Québec…

 

Các dự án PPP y tế tại Canada được thực hiện trên cơ sở các mục tiêu do khu vực công đặt ra. Chính phủ thường đặt ra các mục tiêu như số giường bệnh, diện tích không gian cơ sở y tế, các mục tiêu khác như tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính… nhằm tận dụng năng lực sáng tạo của khu vực tư nhân. 

 

Đối với các dự án kết cấu hạ tầng có sử dụng công nghệ cao hoặc có chuyển giao công nghệ, khu vực tư nhân phải đảm bảo sử dụng công nghệ tối ưu nhất và phải luôn cải tiến công nghệ trong trường hợp có sự thay đổi công nghệ.

 

Từ năm 2000 đến năm 2013, trong số các dự án PPP y tế tại Canada, có 41 dự án được thực hiện theo dạng thức hợp đồng DBFM (Thiết kế - Xây dựng - Tài trợ - Bảo trì) và DBFMO (Thiết kế - Xây dựng - Tài trợ - Bảo trì - Vận hành), chiếm 48% tổng số dự án PPP trong lĩnh vực y tế. Các dạng thức này đều là những biến thể của dạng thức hợp đồng BOT và đều nhấn mạnh vai trò tài trợ và phân bổ nguồn lực của các bên, trong đó có các định chế tài chính, nhờ đó, việc huy động vốn được đa dạng và linh hoạt hơn. Chính phủ Canada cho phép các nhà thầu tư nhân huy động nguồn vốn bằng nhiều hình thức như nguồn tài trợ từ các ngân hàng thương mại, phát hành trái phiếu, cổ phiếu để chi trả cho một phần chi phí trả trước trong quá trình thiết kế xây dựng kết cấu hạ tầng, đồng thời đảm bảo cân bằng tài chính cho dự án.

 

Mặc dù mới thực hiện các dự án PPP trong lĩnh vực y tế trong hơn 13 năm (so với thời gian 25 năm khi bắt đầu áp dụng mô hình PPP vào phát triển kết cấu hạ tầng), song Canada đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Tính riêng 10 năm từ năm 2003 đến năm 2012, Canada đã xây dựng, mở rộng thêm được 85 bệnh viện/cơ sở y tế, tăng thêm được 4.790 giường bệnh điều trị thường xuyên, 1.500 giường bệnh nội trú điều trị dài hạn, mở rộng diện tích khu nội trú thêm 1.16 triệu m2, cải tạo 0.12 triệu m2 khu nội trú bệnh viện; mở rộng, nâng cao năng lực khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe và đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của dân chúng.

 

Các dự án PPP cũng có nhiều đóng góp trong tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động. Từ năm 2003 đến năm 2012, các dự án PPP đã tạo ra hơn 245.000 việc làm, trong đó có hơn 139.000 việc làm trực tiếp, tạo thu nhập 15.400 triệu CAD cho người lao động. 

 

Các dự án PPP trong lĩnh vực y tế cũng đóng góp đáng kể vào GDP của Canada. Tổng GDP được tạo ra bởi các dự án PPP trong lĩnh vực y tế là 22,04 tỷ CAD. Bên cạnh đó, các dự án PPP cũng tạo ra nguồn thu thuế thu nhập đáng kể cho Chính phủ. Tổng số thuế thu nhập tính trên thu nhập chịu thuế phát sinh từ các dự án PPP là 7,51 tỷ CAD, trong đó thuế thu nhập cá nhân lên tới 3,92 tỷ CAD.

 

Chỉ số VFM (value for money) của các dự án y tế được đầu tư theo hình thức PPP đạt từ 5 -15%, thậm chí có dự án có VFM đạt 21%. Điều này cho thấy Chính phủ Canada đã đạt được những lợi ích đáng kể khi áp dụng mô hình PPP thay cho phương pháp tiếp cận dự án truyền thống, hay nói cách khác, đầu tư theo hình thức PPP trong lĩnh vực y tế tại Canada đem lại hiệu quả cao hơn đầu tư công truyền thống.

TS Nguyễn Minh Hằng

Trưởng Khoa Luật- ĐH Ngoại Thương

Trọng tài viên VIAC

ngocthanh