Các mô hình đầu tư hệ thống đấu thầu qua mạng PPP

Hệ thống đấu thầu qua mạng (e-GP) đòi hỏi cung cấp một giải pháp toàn diện, một cửa cho mọi hoạt động mua sắm chính phủ. Tuy nhiên, để triển khai thành công hệ thống e-GP thì cần có nguồn lực tài chính và kỹ thuật. Đầu tư xây dựng hệ thống e-GP theo hình thức đối tác công tư
Các mô hình đầu tư hệ thống đấu thầu qua mạng PPP

Hệ thống đấu thầu qua mạng (e-GP) đòi hỏi cung cấp một giải pháp toàn diện, một cửa cho mọi hoạt động mua sắm chính phủ. Tuy nhiên, để triển khai thành công hệ thống e-GP thì cần có nguồn lực tài chính và kỹ thuật. Đầu tư xây dựng hệ thống e-GP theo hình thức đối tác công tư (PPP) được cho là một giải pháp khả thi, cho phép tận dụng nguồn tài chính và kinh nghiệm chuyên môn của khu vực tư nhân trong việc triển khai và vận hành hệ thống e-GP.

 

Các mô hình đầu tư xây dựng hệ thống e-GP theo hình thức PPP 

Ông Rajesh Kumar Shakya – chuyên gia quốc tế về đấu thầu điện tử cho biết, trên thế giới hiện có nhiều mô hình PPP trong đầu tư xây dựng hệ thống e-GP. Điểm khác biệt giữa các mô hình PPP này là quy định về cách thức giao quyền giữa Chính phủ và nhà đầu tư tư nhân, cơ chế hoàn vốn cho nhà đầu tư tư nhân. 

 

Ở Canada, hệ thống e-GP được xây dựng, vận hành và sở hữu bởi một bên thứ ba thuộc khu vực tư nhân. Mọi quyền liên quan đến thông tin trên Hệ thống vẫn thuộc về các cơ quan nhà nước tham gia Hệ thống. Hệ thống e-GP này tự bảo đảm kinh phí bắt đầu từ năm 1991, dựa trên nguồn thu từ phí đăng ký tham gia Hệ thống và phí tiếp cận hồ sơ mời thầu (HSMT). Chính quyền các cấp có quyền lựa chọn chi trả hoặc trợ cấp cho dịch vụ của Hệ thống để các thông tin của họ được tiếp cận miễn phí. Chính quyền các cấp tham gia Hệ thống quy định việc sử dụng Hệ thống là bắt buộc để bảo đảm rằng bên thứ ba có đủ lượng cầu để duy trì mô hình này hoạt động.

 

Trong khi đó, Ấn Độ lại triển khai dự án PPP xây dựng hệ thống e-GP theo một cách thức khác (hay còn gọi là mô hình PPP của Ấn Độ). Việc quản lý, sở hữu và vận hành do nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba thực hiện, tuy nhiên, Hệ thống sẽ được chuyển giao toàn bộ cho Chính phủ khi hết thời hạn hợp đồng. Mô hình này vận hành theo phương thức tự bảo đảm kinh phí thông qua nguồn thu phí dịch vụ từ các nhà thầu khi đăng ký tham gia Hệ thống và nộp hồ sơ dự thầu (HSDT). Phần lớn nguồn thu là từ thu phí nộp HSDT của nhà thầu, tùy theo quy mô giá trị của hợp đồng, hạn mức là 0,02% giá trị hợp đồng, nhưng tối thiểu là 10 USD và tối đa là 150 USD; người dùng chỉ đăng ký 1 lần để được tham gia Hệ thống với mức phí là 10 USD; gia hạn là 2 USD. 

 

Ở Singapore, quốc đảo này lại áp dụng mô hình PPP do Chính phủ sở hữu và vận hành. Theo đó, Chính phủ xây dựng và vận hành hệ thống e-GP, còn việc thực hiện có thể giao cho đối tác, bên thứ ba hoặc không. Về nguồn kinh phí, Bộ Tài chính cấp kinh phí cho việc xây dựng và triển khai Hệ thống ban đầu, còn lại phần lớn nguồn thu từ các cơ quan nhà nước sử dụng Hệ thống để họ ý thức rõ hơn giá trị của Hệ thống; không thu phí của nhà thầu nhằm khuyến khích càng nhiều nhà thầu tham gia hệ thống e-GP càng tốt.

 

Mô hình của Philippines là Chính phủ quản lý hệ thống e-GP, nhưng việc vận hành và sở hữu lại được giao cho bên thứ ba. Chính phủ sẽ cấp kinh phí thông qua việc thanh toán một khoản phí hàng tháng cho bên thứ ba để phát triển và thực hiện dịch vụ. Ưu điểm của mô hình này là bảo đảm chi phí cố định và giảm thiểu rủi ro cho bên thứ ba.

 

Mô hình nào cho Việt Nam?

Ông Nguyễn Sơn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đấu thầu thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, Việt Nam đang theo đuổi việc đầu tư xây dựng hệ thống e-GP theo hình thức PPP với dạng thức hợp đồng DBFOMT (thiết kế - xây dựng - tài trợ vốn - kinh doanh - bảo trì - chuyển giao). Theo dạng thức hợp đồng này, nhà đầu tư tư nhân thiết kế, tài trợ vốn, xây dựng một hệ thống theo một hợp đồng thuê dài hạn, và khai thác công trình đó theo suốt thời hạn của hợp đồng thuê, sau đó bàn giao lại cho Chính phủ. 

 

Ưu điểm của loại hợp đồng này, theo ông Rajesh Kumar Shakya, là khắc phục hạn chế về ngân sách, công nghệ và nguồn lực của khu vực công, đây vốn là một thách thức rất lớn đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Hợp đồng PPP là một thỏa thuận giữa nhà nước và nhà đầu tư để cung cấp dịch vụ thông qua việc chia sẻ rủi ro và lợi nhuận từ hoạt động đó. PPP giúp khắc phục những khiếm khuyết về nguồn lực, công nghệ, kinh nghiệm quản lý nhằm bảo đảm chất lượng, tiến độ, hiệu quả của các dịch vụ vốn được cung cấp bởi khu vực công. 

 

Tuy nhiên, theo ông Rajesh Kumar Shakya, PPP không phải là tư nhân hóa, bởi trong PPP, khu vực công vẫn chịu trách nhiệm giải trình về việc thực hiện các dịch vụ công. Vì vậy, để triển khai thành công e-GP theo mô hình này, Việt Nam cần phòng ngừa và quản trị hiệu quả rủi ro trong xây dựng hợp đồng PPP. 

 

Trước tiên, chuyên gia này khuyến nghị, Chính phủ cần xây dựng một hệ thống e-GP tích hợp các tính năng. Thứ hai là hợp đồng phải quy định rõ các nội dung, vai trò và trách nhiệm của từng bên tương ứng với các mốc thời gian; trường hợp không đáp ứng yêu cầu về chất lượng, tiến độ chậm hoặc gián đoạn thì có chế tài và lộ trình xử phạt với cấp độ tăng dần. Thứ ba là trong hợp đồng phải ghi rõ các điều khoản chuyển giao (thời gian, nghĩa vụ chuyển giao, quyền sở hữu trí tuệ phần mềm - phần cứng và sử dụng hệ thống dữ liệu, thay mới thiết bị trung tâm dữ liệu, thanh quyết toán, hoàn vốn, lựa chọn đối tác mới…); điều khoản xử lý trường hợp chấm dứt hợp đồng bất thường do quyết định đơn phương của một bên nào đó…

 

Bài học trên được rút ra từ kinh nghiệm “xương máu” của nhiều nước, trong đó có bang Andhra Praradesh (Ấn Độ) với một vụ kiện pháp lý mang tính điển hình từ trước đến nay liên quan đến e-GP. Cách đây 12 năm, mô hình e-GP của bang này được xem là một mô hình rất thành công. Tuy nhiên, đến nay, mô hình này đã bị sụp đổ, do gặp phải một lỗi rất nhỏ trong hợp đồng PPP với nhà đầu tư tư nhân. Đó là chính quyền Bang đã giao toàn quyền cho nhà đầu tư tư nhân từ xây dựng phần mềm, vận hành Hệ thống cho đến duy tu, bảo dưỡng, đào tạo, truyền thông…, nhưng lại không có điều khoản nào quy định về quyền sở hữu trí tuệ, tài sản dữ liệu, bản quyền phần mềm - phần cứng của Hệ thống và cơ chế rút lui khi một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng. Trong khi đó, để tối đa hóa lợi nhuận, nhà đầu tư tư nhân đã tìm mọi cách bán dữ liệu của hệ thống e-GP. Vụ việc được phát hiện ra khi một nhà thầu khiếu kiện và được đưa ra tòa án phân xử. Rốt cuộc, chính quyền Bang đã thua kiện, “trắng tay” sau hơn 10 năm triển khai thành công hệ thống e-GP và đang phải xây dựng lại từ đầu một Hệ thống mới.

 

Một nội dung quan trọng nữa khi thực hiện PPP đối với e-GP cần lưu ý là khu vực nhà nước cần phải chuẩn bị, đào tạo nguồn nhân lực sẵn sàng về trình độ và hiểu biết về công nghệ, năng lực, kinh nghiệm quản lý để có thể tiếp quản, vận hành và duy trì Hệ thống sau khi được chuyển giao Hệ thống, tránh sự phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn lực bên ngoài.

Bích Thủy

ngocthanh